Khả năng giao tiếp của trẻ ở tuổi mẫu giáo

5:24 PM - 26/11/2014

Trẻ giao tiếp với bạn thông qua ngôn ngữ có lời (chẳng hạn bằng cách khóc, phát ra những âm thanh và từ có ý nghĩa, dù chưa rõ ràng) và ngôn ngữ không lời (chẳng hạn bằng biểu hiện nét mặt, cử động đầu và cơ thể, cử động tay chân và giao tiếp bằng mắt).

Giao tiếp là một quá trình hai chiều giữa bạn và trẻ, thể hiện quá trình trao đổi cảm xúc và ý tưởng, dù trẻ đang ở lứa tuổi nào.

Khả năng giao tiếp của trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được mở rộng nhanh chóng khi liên hệ với những sự vật khác trong thế giới của trẻ, đặc biệt là với bạn bè. Trẻ thích nói chuyện với những đứa trẻ khác khi chúng chơi với nhau hòa hợp.

Ngôn ngữ của cha mẹ được dùng để giao tiếp với trẻ

Khi nói chuyện với trẻ, các bậc cha mẹ nên dùng “ngôn ngữ trẻ thơ”. Đây là hiện tượng phổ biến ở nhiều nền văn hóa trên thế giới. Kiểu nói này có đặc điểm là luôn có biên độ cao hơn so với giọng nói bình thường và thường có sự nhấn mạnh thêm ở đầu các từ. Hơn nữa, trong những câu như thế thường được kết thúc bằng âm hỏi, cao lên ở cuối cụm từ, hơn là dùng âm thấp như cách mà người lớn vẫn nói chuyện với nhau. Một số người lớn còn dùng những từ “của trẻ” để bắt chước sự phát âm sai đặc trưng của trẻ. Ngôn ngữ của trẻ có cấu trúc đơn giản với phạm vi hẹp của các âm thanh. Đến lượt mình, trẻ học những hành vi có thể khuyến khích sự chú ý của những người lớn ở gần.

Khả năng giao tiếp của trẻ ở tuổi mẫu giáo 05

Khi trò chuyện với trẻ, các bậc cha mẹ nên sử dụng ngôn ngữ trẻ thơ.

Trẻ dùng ngôn ngữ không lời để giao tiếp

Trẻ có thể dùng những phương thức giao tiếp không lời để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc đến bạn. Đây là một dạng thức quan trọng của quá trình giao tiếp. Hiểu được ngôn ngữ cơ thể này có thể giúp bạn hiểu con hơn.

Giao tiếp thông qua nét mặt quan trọng nhất là nụ cười. Tuy nhiên, trước khi biết cười, trẻ có thể tiếp xúc bằng mắt, quan sát mọi thứ trong tầm nhìn của mình, ví dụ có thể thể hiện sự no nê bằng cách không chịu ăn và biểu hiện sự căng thẳng hoặc nghỉ ngơi bằng cách thay đổi trương lực cơ. Mặc dù trẻ chưa thể hiểu ý nghĩa của những điều bạn nói và không thể tham gia vào câu chuyện cùng với bạn, nhưng trẻ hiểu được những dấu hiệu không lời đi kèm, âm thanh dịu dàng của giọng nói hay cách bạn bế trẻ khi nói chuyện. Trẻ đáp lại những điều đó theo cách riêng, có thể bằng cách nhìn chăm chú vào khuôn mặt bạn hoặc cười đáp lại, hoặc phát ra những tiếng thủ thỉ nhẹ nhàng để biểu hiện cảm xúc.

Khả năng giao tiếp của trẻ ở tuổi mẫu giáo 03

Trẻ cười là một ngôn ngữ ẩn ý trẻ đang vui vẻ, thích thú khi nghe và hiểu được câu chuyện bạn muốn nói đến

Dùng ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp

Khi kiểm soát được các chi trên, trẻ có thể biểu hiện những cử chỉ có ý nghĩa bằng hai tay. Trẻ đưa hai tay về phía bạn là một cách mạnh mẽ để thu hút sự chú ý của bạn, hay ném đồ vật đi là cách thể hiện sự buồn chán hoặc bực tức.

Trẻ em rất giỏi dùng ngôn ngữ cơ thể để biểu lộ ác cảm và những cảm xúc tiêu cực. Khi giận, bé thể hiện rất rõ ràng bằng nét mặt dữ và tỏ cử chỉ từ chối mạnh mẽ bằng nhấn mạnh cảm xúc thay thế cho sự phát âm thành lời hoặc khóc.

Bắt chước cũng là một hình thức ngôn ngữ cơ thể giúp trẻ trao đổi và tương tác với người khác. Trẻ thường có những hành động bắt chước người lớn, nhưng đôi khi cha mẹ cũng bắt chước cử động và hành vi của trẻ để tương tác với trẻ một cách hiệu quả hơn. Đây được xem là quá trình tương tác rất hiệu quả. Bắt chước nhanh chóng trở thành trò chơi tương hỗ, chẳng hạn trò chơi ú òa, vào khoảng 1 tuổi trẻ thường bắt đầu diễn đạt điệu bộ. Đó có thể là cách dùng bàn tay làm cử chỉ tượng trưng cho đồ vật, chẳng hạn hành động đưa chiếc điện thoại tưởng tượng lên tai, hoặc bằng cách thay thế một vật, chẳng hạn chiếc thìa cầm lên tai giống như điện thoại. Biểu tượng điện thoại luôn đem đến cho trẻ niềm thích thú vì nó thường được dùng để bắt đầu một cuộc nói chuyện với cha mẹ hoặc người chăm sóc.

Khả năng giao tiếp của trẻ ở tuổi mẫu giáo 04

Bắt chước cũng là một cách thể hiện của ngôn ngữ cơ thể, giúp trẻ tương tác với người khác

Ngôn ngữ cơ thể khác mà bạn sớm thấy ở trẻ là vẫy tay chào tạm biệt. Trẻ nhỏ dùng cử chỉ này không chỉ có nghĩa là “Tạm biệt”, mà còn có một nghĩa khác là “Bây giờ con muốn đi”, hoặc “Con no rồi”, hoặc thậm chí là “Đi đi”, tùy vào ngữ cảnh và tâm trạng của trẻ để bạn đối chiếu với ý nghĩa của hành động này. Những điệu bộ kiểu này có thể chuyển tải thông tin nhiều hơn so với lời nói, thế nên đây được xem như là một dạng ngôn ngữ tinh vi hơn cả từ ngữ.

Dùng ngôn ngữ dấu hiệu để truyền tải thông tin

Trẻ có thể được dạy những kỹ năng về ngôn ngữ biểu hiện từ lúc được 6 tháng tuổi, và vào khoảng 9 tháng tuổi, trẻ có thể đã bắt đầu dùng cách này để thể hiện những nhu cầu cơ bản của mình. Ngôn ngữ dấu hiệu có thể giúp trẻ thể hiện những ý tưởng và việc sử dụng ngôn ngữ dấu hiệu sẽ khuyến khích khả năng giao tiếp của trẻ. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ngôn ngữ nói. Trẻ thường phát ra những âm bập bẹ trước khi nói được. Trong khi khích lệ trẻ sử dụng ngôn ngữ dấu hiệu, bạn nên chú ý đến nền tảng ngôn ngữ âm thanh đầu tiên này. Bên cạnh đó, ngôn ngữ dấu hiệu có thể gây trở ngại nhất thời trong việc sử dụng ngôn ngữ nói bởi vì trong thời gian đầu, trẻ có thể dựa vào điệu bộ nhiều hơn từ ngữ. Dù bạn có dạy ngôn ngữ dấu hiệu cho trẻ hay không, việc dành thời gian giao tiếp với trẻ bằng bất kỳ cách nào cũng sẽ mang lại nhiều lợi ích đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.

Theo Chăm sóc bé – BS. Nguyễn Lân Đính

Protected by Copyscape Online Plagiarism Check